Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2021

Khi linh hoạt trở nên quá giới hạn: hội chứng người dẻo ”Generalised Joint Hypermobility (GJH)” trong yoga

 


Hypermobility là một hội chứng khiến cho các khớp xương của người bệnh trở nên mềm dẻo một cách bất thường, ngay cả cấu tạo các phần xương sống cũng rất khác biệt. Mặt khác, trong cơ thể người bệnh có các mô liên kết hoặc collagen cho phép xương sống chuyển động một cách linh hoạt và mềm dẻo hơn giữa các khớp xương.

Hội chứng người dẻo Hypermobility thường mắc phải do di truyền và ảnh hưởng đến mô liên kết của cơ thể, làm cho nó đàn hồi hơn nhiều so với mức cần thiết. Các mô liên kết có ở khá nhiều ở mọi nơi trong các cơ quan, da, cơ bắp, mạch máu của bạn. Và nó bao quanh các cơ, khớp, gân và dây chằng của bạn có nhiệm vụ hỗ trợ giữ ổn định cấu trúc khớp một cách chặt chẽ

Hội chứng hội chứng người dẻo (GJH) và chấn thương

        Khi mô liên kết có quá nhiều độ đàn hồi, bạn có nguy cơ bị chấn thương vì bạn cần kiểm soát nhiều hơn xung quanh khớp. Tiến sĩ Verity Pacey, nhà vật lý trị liệu và chuyên gia về GJH từ Đại học Macquarie và Bệnh viện Nhi đồng tại Westmead giải thích: "Bạn liên tục tiến xa hơn những gì được coi là phạm vi kết thúc bình thường của khớp".

        Điều này gây ra rất nhiều áp lực cho các đầu gân gắn các cơ với xương của bạn, và dây chằng của bạn, kết nối xương với nhau tại khớp. Bằng cách  liên tục đẩy khớp xương hoạt động quá mức "bình thường", bạn sẽ bị chấn thương vi mô, có thể dẫn đến chấn thương nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như trật khớp, căng và giãn dây chằng và tràn hoạt dịch, hoặc viêm gân.

         Một trong những vấn đề với hội chứng người dẻo GJH là hầu hết mọi người không biết rằng họ quá linh hoạt.  Hội chứng này có thể được coi là tích cực khi nói đến trong một số hoạt động tập luyện thể thao nhất định - chẳng hạn như Yoga, khiêu vũ và thể dục dụng cụ. vì trong tất cả các môn thể thao này tố chất linh hoạt và kéo giãn, độ dẻo cao được xem là nền tảng

         Mãi đến khi bạn bị thương và gặp bác sĩ vật lý trị liệu, bạn mới nhận ra chuyện gì đang xảy ra. "Có rất nhiều người không biểu hiện triệu chứng. Và bạn có thể bị cuốn hút vào một môn thể thao vì sự linh hoạt và độ dẻo cao của bạn", tiến sĩ Pacey nói. Nhưng khi bạn bị chấn thương, thường sẽ mất nhiều thời gian hơn để chữa lành. Vì vậy, bạn khó có thể duy trì lâu dài trong môn thể thao của mình đang tập luyện.

       Cần thiết phải chỉ ra, có một sự khác biệt giữa Hội chứng người dẻo (GJH) và hội chứng Ehlers Danlos Syndrome (EDS), là một loại hội chứng bệnh di truyền. Biểu hiện điển hình của bệnh là da, mô, khớp lỏng lẻo do việc sản xuất các collagen bất thường. Bệnh gặp ở mọi chủng tộc trên thế giới, cả ở nam và nữ. nghiêm trọng hơn nhiều so với hội chứng người dẻo (GJH). Những người mắc EDS thường sống trong tình trạng thường xuyên đau khớp và cơ nghiêm trọng, da lỏng lẻo dễ bị bầm tím, mệt mỏi cực độ và có nguy cơ bị sa và thoát vị.

Yoga và hội chứng người dẻo (GJH)

         Yoga là một phương pháp luyện tập lâu đời có nguồn gốc từ Ấn Độ khoảng 5.000 năm trước. Người ta thường cho rằng tập yoga là tập những động tác, tư thế uốn éo kỳ lạ. Nhưng thật ra, yoga bao gồm các bài tập giúp cải thiện thể chất, tinh thần, tình cảm và cả tâm linh của người tập. Đây là một lựa chọn thú vị cho những người mới bắt đầu cũng như những ai luyện tập thể dục thường xuyên. Bản chất của Yoga là sự kết hợp giữa sự linh hoạt, độ mềm dẻo và sức mạnh 

        Hiện nay nhiều người tập yoga đang cố gắng kéo, mở và tăng độ dẻo cũng như độ linh hoạt của các nhóm khớp như: vai, cổ tay, hông và cột sống…. trong nhiều năm của quá trình tập luyện tiếp tục kéo căng giãn bản thân hơn nữa, cho đến khi mô liên kết vốn đã lỏng lẻo của họ có thể giống như một dây thun cũ. Rất nhiều người khi trở thành HLV họ mới hiểu rằng việc cố gắng vượt qua quá mức giới hạn hoạt động khớp là 1 điều tồi tệ. 

        Giống như hầu hết mọi người, trước khi đến yoga có nhiều người trong tình trạng hội chứng người dẻo (GJH) và họ luôn  nghĩ rằng sự linh hoạt của họ là một điều tuyệt vời và hãnh diện. Nhưng sau một thời gian dài họ mới nhận ra sự thật không phải như vậy khi ho thường xuyên dễ dàng mắc các tình trạng chấn thương về khớp, gân cơ và dây chằng 

        Số người mắc phải hội chứng người dẻo (GJH) hiện nay trên thế giới chiếm tỉ lệ 4-30% rất khó để xác định một con số chính xác và cụ thể vì chúng ta sẽ trở nên cứng hơn khi chúng ta già đi, phụ nữ dễ linh hoạt và mềm dẻo hơn trong di chuyển so với nam giới và những người không phải da trắng khả năng siêu linh hoạt cao hơn"

           Các chuyên gia nói rằng nó khó xác định chính xác nguyên nhân gây ra tình trạng hội chứng người dẻo (GJH), ngoại trừ đó là có thể mắc phải do di truyền, tuy nhiên có một số trường hợp tự đào và biến đổi để trở thành tình người dẻo, vd như vũ công ba lê, Vđv thể dục dụng cụ và nghệ thuật, Vđv Yoga

        Giải pháp để khắc phục tình trạng hội chứng người dẻo là tăng cường hoạt động sức mạnh cơ bắp bao quanh các khớp. mặc dù không thể hoàn toàn ngăn tình trạng siêu uốn dẻo khớp, nhưng nó có thể giúp kiểm soát chuyển động khớp và giảm nguy cơ chấn thương. Điều khó khăn cho tình trạng siêu linh hoạt là khi họ luyện tập sức mạnh, họ liên tục được yêu cầu dừng lại ở phạm vi chuyển động "bình thường". Thường thì họ không biết cảm giác đó như thế nào.

       "Dây chằng, gân và bao nang khớp có các đầu dây thần kinh cung cấp thông tin về cảm giác và cần bao nhiêu cơ bắp kích hoạt để kiểm soát khớp của bạn", nhà vật lý trị liệu Nigel Morgan giải thích. "Nhưng khi chúng bị kéo giãn quá mức theo thời gian, hệ thống phản hồi đó bị suy yếu, do đó hệ thống thần kinh của bạn dần nhận được ít thông tin hơn. Điều này khiến bạn khó kiểm soát chuyển động của mình hơn."

        Đó là lý do tại sao những người mắc hội chứng người dẻo không nên cố gắng dừng lại trong phạm vi 'bình thường'."Bạn không thể thực sự ngăn mình bước vào phạm vi đó đặc biệt là khi bạn mệt mỏi, vì vậy tốt hơn hết là học cách kiểm soát và tăng cường cơ bắp của bạn trong phạm vi vượt quá đó", phó giáo sư Nicholson giải thích.

        Bằng cách đó, bạn sẽ rèn luyện khả năng chăm sóc, khả năng cảm nhận vị trí tương đối của các bộ phận cơ thể  và cải thiện hệ thống phản hồi của hệ thần kinh, để giúp bạn kiểm soát khớp tốt hơn. Điều đó có nghĩa là một người tập Yoga  siêu linh hoạt cũng sẽ có sức mạnh và khả năng kiểm soát trong khi làm những điều điên rồ với cơ thể của họ.

Nhìn chung, những người có khớp siêu linh hoạt có thể được hưởng lợi từ việc nâng và tập tạ nhiều lần trong tuần. Các cơ bắp bạn cần tăng cường sẽ phụ thuộc vào vị trí nơi bạn quá linh hoạt, nhằm xây dựng các cơ chính bao quanh khớp là chìa khóa, đặc biệt nếu đó là các khớp luôn chịu trọng lượng của bạn trong các tư thế như hông, đầu gối, vai và lưng. Không chỉ vậy, chúng ta cần học cách phối hợp các cơ để chúng hoạt động đồng bộ khi di chuyển xương và khớp của chúng ta. Nói dễ hơn làm.

Tham khảo thêm: 6 Chấn thương yoga phổ biến và cách phòng tránh.

Bạn có thuộc nhóm siêu linh hoạt?

Chẩn đoán rối loạn tăng động khớp hoặc nghiêm trọng hơn cần được bác sĩ thực hiện, nhưng cách dễ nhất để xem bạn có bị rối loạn tăng động khớp tổng quát hay không là với điểm số của thang đánh giá “ Beighton”


Sử dụng Điểm số thang đánh giá Beighton, một điểm được chỉ định cho khả năng thực hiện từng chuyển động sau: (tổng điểm của thang điểm này là 9 điểm)

  • Uốn ngón tay út của bạn ngữa hơn 90 độ (1 điểm mỗi bên)
  • Uốn khuỷu tay của bạn vượt quá một đường thẳng > 10 độ (1 điểm mỗi bên)
  • Uốn cong đầu gối của bạn vượt quá một đường thẳng > 10 độ (1 điểm mỗi bên)
  • Đặt lòng bàn tay của bạn trên sàn nhà mà không uốn cong đầu gối của bạn( 1 điểm)
  • Kéo ngón tay cái của bạn gập trở lại để chạm vào phía trước cẳng tay của bạn (1 điểm mỗi bên)

Điểm số về Hội chứng người dẻo cho nữ theo từng nhóm tuổi:

  • 3-7 tuổi: 6 điểm
  • 8-39 tuổi: 5 điểm
  • 40-59 tuổi: 4 điểm
  • 60-69 tuổi: 3 điểm
  • Over 70: 2 điểm

Điểm số về Hội chứng người dẻo cho nam theo từng nhóm tuổi:

  • 3-7 tuổi: 5 điểm
  • 8-39 tuổi: 4 điểm
  • 40-59 tuổi: 2 điểm
  • Over 60: 1 điểm

Các bạn có thể dùng thang điểm sau để kiểm tra và tham khảo xem mình có thuộc nhóm siêu linh hoạt không nhé.

---
Chép lại từ FB TS. Đàm Anh Tuấn
Chuyên ngành vận động học và y học TDTT
Giảng viên khoa y sinh trường ĐH TDTT TP. HCM
Chuyên khoa YHCT
HLV yoga liên đoàn Yoga
Coach cấp 3 Training Fitness & thể hình

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2021

Đau đầu, choáng váng, và mờ mắt sau khi backbend sâu?

 

Gần đây, trong các cộng đồng thực hành yoga và các giáo viên yoga có chia sẻ 1 số video và những câu chuyện ví dụ như bị ngất, choáng, hay thậm chí là co giật khi thực hiện các động tác deep backbend như trong 1 video từng được chia sẻ rộng rãi trước đây. Cá nhân mình cũng biết 1 số trường hợp bị ngất sau khi giữ deep backbend. Thực ra, đây không phải là hiện tượng lạ và có nhiều người có thể đã từng cảm thấy đau đầu, choáng váng, và mờ mắt gần giống như bị tụt huyết áp vậy sau khi tập backbend, nhất là những động tác backbend sâu với cổ ngửa ra sau tối đa. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể đến từ cổ, và hôm nay mình sẽ giải thích vấn đề này dựa trên giải phẫu học.

H1: Động mạch đốt sống (dải màu đỏ đi qua các mỏm ngang ở 2 bên đốt sống cổ) đưa máu từ tim lên trên đầu
H1: Động mạch đốt sống (dải màu đỏ đi qua các mỏm ngang ở 2 bên đốt sống cổ) đưa máu từ tim lên trên đầu

H2: Hình vẽ động mạch đốt sống ở đốt sống C1
H2: Hình vẽ động mạch đốt sống ở đốt sống C1

Ở dọc 2 bên mỏm ngang (transverse processes) của các đốt sống cổ từ C1 đến C7 là 2 động mạch đốt sống (vertebrae artery) rất lớn có nhiệm vụ đưa máu từ tim lên não và kết nối với động mạch nền (basilar artery) ở trên não để từ đó phân phối máu đi khắp não bộ (hình H1&2). Trong tập luyện, mọi người thường hay chú ý tới lưng dưới (lumbar spine) là khu vực “quá dẻo” của cột sống, nhưng trên thực tế cổ mới là phần linh hoạt nhất của toàn bộ cột sống, có khả năng bend rất sâu so với phần lưng trên hay lưng dưới. Quãng chuyển động của cổ lại tập trung nhiều nhất ở 2 đốt sống đầu tiên là C1 (còn gọi là Atlas - tên đặt theo vị thần Atlas, người nâng đỡ cả quả địa cầu trên vai giống như đốt sống C1 đang nâng đỡ bộ não) và C2 (còn gọi là Axis). Theo Physiopedia, 50% quãng gập cổ và ngửa (duỗi) cổ đến từ khớp giữa C0-C1, và khoảng 50% quãng chuyển động xoay (rotation) đến từ khớp C1-C2. Chuyển động của 2 đốt sống C1 và C2 là cực kỳ linh hoạt.

H3: Khi cổ ngửa ra sau tối đa, sự thiếu ổn định (instability) xung quanh C1 & C2 khiến chèn ép lên động mạch lớn và ngăn cản máu đưa lên não.
H3: Khi cổ ngửa ra sau tối đa, sự thiếu ổn định (instability) xung quanh C1 & C2 khiến chèn ép lên động mạch lớn và ngăn cản máu đưa lên não.

Một vấn đề có thể gặp phải đối với cổ đó là thiếu sự ổn định (stability), nhất là đối với 2 đốt sống trên cùng C1 và C2. Do nhiều nguyên nhân, 1 số người có phần C1, C2 này không ổn định và có các cơ xung quanh không đủ khoẻ để có thể hỗ trợ được cổ trong những tư thế hoặc chuyển động của cổ. Khi bend ra sau (neck extension), các cơ quanh đốt sống cổ nếu không đủ khoẻ và ổn định ở cuối quãng chuyển động sẽ gây áp lực lớn lên các cấu trúc sâu hơn và chèn ép 2 động mạch đốt sống. Minh hoạ về giải phẫu của cổ và đường đi 2 động mạch và dây thần kinh ở khu vực C1 và C2 có thể được hình dung qua hình H2&3. Điều này khiến giảm lưu lượng máu và gây ra thiếu máu lên não tạm thời. Từ đó gây ra 1 loạt các hiện tượng ví dụ như hoa mắt, choáng váng, đau đầu, tê,... sau khi backbend sâu.

Vậy câu hỏi đặt ra là, có nên tiếp tục tập backbend sâu hay không? Nếu muốn tập backbend sâu thì cần phải chú ý điều gì? Để góp phần hạn chế và khắc phục vấn đề chèn ép (compression) ở cổ này, việc tập luyện để các cơ sâu trong cổ trở nên khoẻ hơn đến giúp ổn định cổ là vô cùng cần thiết khi backbend nói riêng và sự khỏe mạnh của cổ trong các chuyển động ở cuối quãng, đặc biệt là khi cổ còn phải chịu thêm lực như trong tư thế châu chấu hay chest stand. Thay vì chỉ cố gắng “ép” cơ thể 1 cách thiếu hiểu biết và thiếu kỹ thuật, lời khuyên của mình dành cho những người tập luyện nói chung đó là phải biết cách tập để làm tăng sự ổn định (stability) thông qua thực hành 1 số bài tập làm mạnh cơ ổn định (stabilizers) và lấy nền tảng này để phát triển và nâng cao thêm.

---
Dũng Nguyễn - Yoga Science - 18/2/2021 
Nguồn FB Thái Dũng.

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2020

Giáo viên yoga chứ không phải là "bác sĩ"

 

Giáo viên yoga chứ không phải là bác sĩ, khóa 200 giờ khai giảng tháng 11 vừa rồi mình vừa đào tạo xong phần 1 có 01 học viên trong khóa là bác sĩ xương khớp, thật sự mình rất vui khi có bác sĩ tham gia khóa học của mình, vì mình có cơ hội đào sâu về cơ xương khớp hihi... Học viên hỏi mình "cô có khớp khi giảng bài không? Mình nói "không", vì lý do:

+ Mình chỉ nói những gì mình hiểu theo kiến thức và trải nghiệm của mình trong việc tập luyện yoga, chứ mình không cho điều mình nói là 100% đúng, sau đó mình luôn hỏi bác sĩ bổ sung nếu có!

+ Học viên hỏi cái gì mà dù mình biết trên lí thuyết mà chưa thật sự trải nghiệm mình cũng từ chối trả lời và nói "mình đâu phải là bác sĩ đâu mà biết hết tất cả"... Dù mình có biết câu trả lời nhưng cũng không trả lời, vì lý thuyết chỉ là lý thuyết. Mình nói mình chỉ có thể chỉ cho các bạn các kỹ thuật canh chỉnh làm sao cho đỡ áp lực ở các khớp khi tập luyện yoga, còn lại các vấn đề khác mình làm sao biết được hihi..

Bây giờ mình thấy giáo viên yoga toàn là "bác sĩ", cứ trả lời y như đúng rồi, học vài lần hội thảo và 1 hoặc 2 khóa gì đó nho nhỏ là có thể "trị liệu" này nọ. Còn nhìn tướng đón được bệnh này nọ nữa, giống như làm thầy "bói" luôn á.. khi thấy những điều này mình thật sự chỉ biết "thở dài" một cái rồi cho qua thôi...

Rất nhiều người cứ tưởng giáo viên yoga ai cũng là "siêu nhân" nên đã "lầm", chiều nay lại nghe chị bạn kể rằng có cô kia tập yoga trồng chuối làm sao mà phải đi bệnh viện "mổ" cổ, thỉnh thoảng lại nghe những câu chuyện như thế này, thật sự mình không biết làm sao, mà mình biết lý do là cái gì - mình nghĩ rằng mọi thứ xảy ra thứ nhất đến từ chính mình nhiều lắm, do sự nhìn nhận về vấn đề của mình chưa rõ, chưa sâu, nên chính mình phải nhận lấy hậu quả, nếu mình cẩn thận hơn, yêu quý cơ thể mình, đi tìm hiểu kỹ các thầy cô và các trung tâm dạy yoga, trang bị một chút kiến thức về môn này, cách tập luyện sao cho an toàn... thì phòng tránh "chấn thương" được nhiều lắm.

Thứ hai là do giáo viên yoga chưa ý thức được sự tạo tác "bad karma" (hành động xấu) sẽ gây ra các hậu quả xấu, giáo viên chưa "khiêm nhường" học hỏi và chưa cẩn trọng, chưa trân quý cơ thể của học viên, chưa có kiến thức, kinh nghiệm đầy đủ, bị cuốn theo sự phát triển hổn loạn của tất cả mọi thứ nói chung và yoga nói riêng, cái gì cũng phải nhanh và cấp tốc, mới học xong khóa 200 giờ là ra mở trường đào tạo giáo viên, mới học xong bằng liên đoàn 10 ngày là có thể mở phòng tập yoga, cứ thế giáo viên yoga và phòng tập yoga cứ ra đời liên tục, đây cũng là một điều tốt vì yoga đang phát triển nhưng cái gì mà phát triển nhanh cũng xảy ra mặt hạn chế của nó - về chất lượng sẽ khó kiểm soát. 

Giáo viên yoga cũng phải cẩn thận hạn chế tối đa học viên xảy ra sự cố trong lớp của mình, ngoài việc học về cơ xương khớp, sinh lí, tâm lý còn phải học về phương pháp và nghệ thuật dạy cho an toàn phòng giảm chấn thương tối đa, quan trọng hơn cả là tập luyện cho tâm tính mình ổn nữa mới dạy ổn được - mình rất đề cao những điều này khi đào tạo giáo viên yoga!


Chắc nhiêu đây cũng đã đủ cho chúng ta suy ngẫm về điều này và cùng nhau bảo vệ chính mình, chỉ có mình mới có thể giúp được mình thôi!

Chúc cả nhà một buổi tối an lành🙏
P/s: xin vui lòng chia sẻ bài viết thoải mái nhé🙂
---
Chép lại từ FB Kim Nguyen.


Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

Chỉ có tư thế yoga dễ, tư thế yoga khó - Không có tư thế nâng cao

 

Chỉ có tư thế dễ, tư thế khó trong vô vàn asana mà chúng ta đang thực hành. Đừng nên dùng cụm từ "Asana nâng cao" để kích thích sự tò mò muốn khai phá của các Hv hoặc đề cao năng lực bản thân (Tham khảo: Sự vô lý của các tư thế yoga nâng cao).

Có tài liệu nào từ cổ chí kim nói về hai lợi ích khác nhau cho cùng 1 asana Rắn hổ mang chân duỗi sau và Rhm chân chạm đầu hay như asana bánh xe và bánh xe tay nắm cổ chân? Hay chính các Tt được gọi là Hổ mang chúa, bánh xe hoàn hảo nói trên đã vô tình biến một vài đốt sống cổ, thắt lưng thành khớp động khi mà bản chất nó là khớp bán động...

Kiến thức bạn cần có phải là trong cùng một ca tập, cùng một asana, cùng một thời khắc... sẽ khiến tất cả Hv thoả mãn và hưởng lợi như nhau dù: Người cơ địa cứng, người sức khoẻ yếu, người tập mới, người tập cũ.

Kiến thức bạn cần có là hiểu nhiều về giải phẫu, hiểu từng lớp cơ, khớp, tế bào nào của Hv được căng - giãn - nới lỏng - xiết chặt hay nghỉ ngơi trong 1 asana bất kì. Hiểu thế nào là khớp bất động, khớp bán động, khớp động, cấu tạo nào tạo nên sự khác biệt đó? Thế nào là tiến trình lão hoá khớp tự nhiên? Phân biệt vùng ảnh hưởng mà biết chính xác đốt sống bệnh. Phân biệt giãn - co cơ khác nhau thế nào vv... Chỉ cần hiểu đúng và đủ bạn đã là 1 Hlv có năng lực.

5 kiến thức cơ bản về Yoga truyền thống bạn phải nằm lòng thay vì tìm chuỗi , tư thế nâng cao hay mê mải tìm các workshop khi bản thân thật sự chưa đủ chín để học. 5 kiến thức đó là:

#Kosha #Pranayama #Bandha #Nadis và #Chakra.

+ Kosha là gì ? dấu hiệu nào mà chỉ cần trao đổi với Hv trong một cuộc trò chuyện chúng ta phát hiện Kosha nào đó của họ đang bị tổn thương?

+ Pranayama bản chất thật sự?

+ Bandha được ứng dụng thế nào trong việc dẫn khí khi thực hành asana để khai thác triệt để công dụng tự phục hồi - lợi ích gốc của Yoga?

+ Nadis - Khi bạn thông suốt về nó bạn sẽ giống như 1 thầy xem tướng mà đọc vanh vách sở trường, sở đoản của từng Hv khi tiếp xúc, từ đó giúp họ cân bằng trở lại, phát huy sở trường, triệt tiêu sở đoản...

+ Cuối cùng là Chakra. Hãy hiểu và tin một cách thông thái đừng để bị, thậm chí tự dẫn mình vào mê trận, đừng hiểu một cách mặc định mà không dám khai phá vì sợ lạc đường...


Kiến thức thì mênh mông, hiểu biết thì giới hạn. Chỉ mong muốn một điều cái Tầm của Hlv Yoga VN chúng ta (cả tôi) không chỉ dừng lại ở số lượng cái bằng, cái chứng chỉ, cái huy chương thi đấu nhiều hay ít, chinh phục được bao nhiêu asana nâng cao, thiền bao tiếng 1 ngày hay nhớ được bao từ tiếng Phạn... Hãy học một cách nghiêm túc. Nếu chưa đủ, bạc đầu rồi vẫn nên học lại.
Cảm ơn đã đọc.
---
Chép lại từ FB Hoảng Thảo Yogi.

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2020

Những Kiến Thức Cần Biết Khi Tập Yoga


1. Yoga là một môn khoa học cực kỳ tinh tế, nghiên cứu về thể xác, tinh thần và linh hồn của con người. Thần Shiva là vị yogi đầu tiên xuất hiện từ hơn 15.000 năm trước tại dãy Hy Mã Lạp Sơn.

2. Tập yoga lâu dài sẽ đem lại cho chúng ta một cơ thể khoẻ mạnh, một tinh thần sảng khoái và sáng suốt. Nó giúp tái sinh lại, hồi phục lại những cơ thể suy yếu và bệnh tật.

3. Yoga là một biện pháp trị liệu tuyệt vời vì tất cả các động tác yoga điều là biện pháp trị liệu. Chỉ khi chính bản thân chúng ta trãi nghiệm nó thì chúng ta mới thấy được sự tuyệt vời mà yoga đem lại cho mình. Người ta hay thường nói yoga là sự tái sinh là thật sự chính xác.

4. Không được vội vàng trong khi tập yoga vì có những động tác phải mất vài năm luyện tập thì chúng ta mới có thể tập được nhưng cũng có những động tác chỉ mất khoảng vài tháng. Vì thế yoga là sự kiên trì mỗi ngày, không được vội vàng khi luyện tập vì mục đích chính của yoga là đem lại sức khoẻ chứ không phải đem lại những chấn thương cho cơ thể.

5. Không được so sánh bản thân mình với bất kỳ ai trong khi tập yoga vì mỗi cơ thể chúng ta khác nhau, cấu tạo cơ xương khớp khác nhau ở mỗi người thì chúng ta không được suy nghĩ và buồn chán khi ai đó làm được tư thế mà sao chúng ta chưa làm được.

6. Cơ thể chúng ta là một ngôi đền, để bảo vệ nó chúng ta cần xây dựng những nền tảng cần thiết để bảo vệ nó vì cơ thể chúng ta chỉ có chúng ta mới biết được những gì thuộc về bên trong của chúng ta. Chỉ có chính mình mới biết được những giới hạn của mình thế nên hãy luyện tập yoga với sự chú tâm quan sát, suy ngẫm và cảm nhận sự thay đổi của cơ thể.

7. Khi tập yoga hãy luôn quan sát hơi thở của mình vì rất nhiều người chỉ chú ý tới động tác mà quên đi hơi thở. Vì khi thở đúng thì khi luyện tập yoga mới thật sự đem lại hiệu quả.

8. Yoga cần sự kiên trì mỗi ngày, hãy dành cho cơ thể mỗi ngày 60 phút, hãy tận hưởng 60 phút này cho chính bản thân mình bằng cách thật sự tập trung luyện tập, tắt chuông điện thoại, lắng nghe hơi thở, lắng nghe sự chuyển động của cơ thể.

9. Ai cũng có thế mạnh của riêng mình, người thì có lực mạnh nhưng cơ thể cứng, người có sự dẻo dai nhưng lực thì yếu cho nên chính sự luyện tập kiên trì mỗi ngày sẽ khắc phục lại tất cả.

10. Yoga thì rất là tốt nhưng cái gì quá thì cũng phản tác dụng nên mỗi ngày hãy tập từ 60-90 phút. Nhiều người tập yoga 3-4 tiếng mỗi ngày thì sẽ bị suy giảm sức khoẻ và không còn nguồn năng lượng. Cân bằng hợp lý dinh dưỡng, lựa chọn nguồn thực phẩm sạch để tạo nguồn năng lượng là việc rất cần thiết.

11. Hãy để yoga theo suốt cuộc đời của bạn vì:
“Khi bạn tập yoga vài tuần nó sẽ thay đổi tâm trí bạn.
Khi bạn tập yoga vài tháng nó sẽ thay đổi cơ thể bạn.
Nhưng khi bạn tập yoga vài năm nó sẽ thay đổi cả cuộc đời của bạn.”
Chúc cho tất cả mọi người tập yoga với sự hiểu biết và ngày càng có nhiều người yêu thích môn yoga.

---
Chép lại từ FB Trịnh Ngàn Phương.


Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

Yoga là gì? Khác thể dục thế nào? Dành cho ai? Hiểu đúng về tập Yoga

 

Yoga là gì? Khác thể dục thế nào? Dành cho ai?
1. YOGA LÀ GÌ?

  • Yoga là một bộ môn khoa học lấy hơi thở làm gốc, thiền là đỉnh cao và trị liệu là giá trị cao nhất.
  • Nếu coi hơi thở là nội dung thì các động tác/tư thế chính là hình thức để truyền tải nội dung đó.

2. TẬP YOGA KHÁC TẬP THỂ DỤC NHƯ THẾ NÀO?
  • Tập thể dục hướng ngoại - Tập yoga hướng nội, hướng vào bên trong cơ thể.
  • Tập thể dục hướng đến phần Thân bằng cách vận động cơ thể nhanh, mạnh với mục đích ra thật nhiều mồ hôi để đốt cháy calo - Tập yoga hướng đến sự cân bằng Thân-Tâm-Trí, giúp khoẻ Thân-an Tâm-vững Trí, giúp chữa lành cả Thân bệnh-Tâm bệnh, giúp ta tìm lại chính mình.
  • Tập thể dục thiên về phát triển sức mạnh cơ bắp - Tập yoga giúp phát triển đồng bộ cả: khả năng thăng bằng, độ giãn, độ dẻo dai và sức mạnh.
  • Tham khảo thêm: Đây là 15 lý do tại sao tập Yoga tốt hơn Gym.

3. YOGA DÀNH CHO AI?

Yoga là bộ môn khoa học mang tính phổ cập, thích hợp với tất cả mọi người trừ ba trường hợp sau:

  • Người đang bị chấn thương, vết thương chưa lành.
  • Người không có nhận thức như mắc bệnh thần,...
Riêng với trẻ dưới mười một tuổi khi mà cột sống chưa phát triển hoàn thiện ( chín đốt xương sống bao gồm năm đốt xương cùng và bốn đốt xương cụt chưa hợp nhất làm một) thì việc dạy yoga cho trẻ dưới mười một tuổi cần thận trọng và bằng tất cả tình yêu thương.

4. TẬP YOGA ĐÚNG LÀ NHƯ THẾ NÀO?
  • Là tập động tác/tư thế trong sự kết hợp hài hoà và nhuần nhuyễn với hơi thở.
  • Là tập động tác/tư thế phù hợp với cơ địa của bạn.
  • Là tập động tác/tư thế hợp lý với tình trạng sức khoẻ hiện tại của bạn.
  • Là khiến bạn cảm thấy thoải mái, sảng khoái, bình an sau khi kết thúc buổi tập.
Tập yoga rất tốt, tuy nhiên, nó lại là "con dao hai lưỡi": tập đúng sẽ mang lại hiệu quả tuyệt vời nhưng tập sai sẽ để lại hậu quả khôn lường. Do đó, hãy luôn là một người thực hành yoga thông minh, biết đặt sự an toàn của bản thân lên hàng đầu.

Tham khảo thêm: 5 Điều sai lầm về yoga vẫn còn được giảng dạy.

(Trích cuốn sách đầu tay của tớ: "Kinh nghiệm luyện tập yoga an toàn" - Trang 14-17)
---
Chép từ FB Trần Thủy Yoga.

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2020

3 bí quyết trong trị liệu cho bệnh nhân ung thư



Trước khi sinh bé Sóc, tôi là cô giáo dạy yoga từ thiện cho bệnh nhân ung thư của tổ chức phi chính phủ SCI. Tôi dạy cho tổ chức này được khoảng gần 2 năm nên cũng có nhiều trải nghiệm thực tế. Cộng với quá trình tôi dạy các lớp yoga trị liệu online mỗi ngày, trong đó có nhiều học viên đang mắc ung thư, thêm kiến thức sẵn có, sự tìm tòi và nghiên cứu của bản thân, tôi rút ra 3 bí quyết sau trong trị liệu cho bệnh nhân ung thư, xin chia sẻ để các bạn tham khảo:

1. BỎ ĐÓI TẾ BÀO ÁC TÍNH BẰNG CÁCH ĂN CHAY TRƯỜNG

Có 2 vấn đề lớn đề cập ở đây:

1.1. Loại bỏ các loại thịt màu đỏ ra khỏi bữa ăn

Tế bào ác tính hay còn gọi là tế bào ung thư, tế bào K phát triển rất mạnh, rất nhanh trong môi trường axit, không phát triển được hoặc chậm phát triển trong môi trường kiềm. Do đó, nó đặc biệt yêu thích các loại thực phẩm màu đỏ, nhất là các loại thịt có màu đỏ. Vì vậy, để bỏ đói tế bào ác tính, bệnh nhân ung thư cần thay đổi thực đơn bữa ăn, loại bỏ các loại thịt màu đỏ ra khỏi bữa ăn, thay thế bằng các loại thực phẩm màu xanh, nên ăn nhiều rau, củ, quả. Nếu chuyển hẳn từ ăn mặn sang ăn chay trường thì thực sự quá tuyệt vời.

Chưa kể ăn chay thì dễ tiêu hoá, khiến cơ thể trở nên nhẹ nhõm, không mất nhiều thời gian chuyển hoá thức ăn như khi ăn mặn, sẽ tránh được việc giải phóng các gốc phân tử tự do gây hại cho cơ thể.

1.2. Loại bỏ đường và tinh bột ra khỏi bữa ăn

Tế bào ung thư rất thích đường. Khi chúng ta dung nạp đường vào trong cơ thể chính là chúng ta giúp khối U ác tính phát triển nhanh thêm. Do đó, cần loại bỏ đường ra khỏi thực đơn bữa ăn hàng ngày và thay thế bằng lượng đường từ các loại rau, củ, quả.

Tinh bột, đặc biệt là cơm trắng cũng cần hạn chế tối đa, thậm chí là loại ra khỏi bữa ăn hàng ngày. Vì sao vậy? Vì tinh bột sẽ tạo nên đường. Hơn nữa, trong quá trình chuyển hoá từ tinh bột thành đường, nó sẽ giải phóng các gốc phân tử tự do, gây hại cho cơ thể. Chúng ta sẽ dần thay thế ăn tinh bột như một thói quen cố hữu của người Việt mình sang ăn các loại ngũ cốc được chế biến từ các loại hạt nguyên cám hoặc cơm gạo lức.

Các bạn cũng biết, có 5 yếu tố kết hợp với nhau để tạo nên một cơ thể khoẻ mạnh, đó là: dinh dưỡng, vận động, tâm lý, môi trường sống và thói quen sinh hoạt thì dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng nhất, chiếm tới 60%.

Do đó, lời khuyên đầu tiên tôi dành cho bệnh nhân ung thư chính là chúng ta thay đổi thói quen ăn uống như tôi phân tích ở trên.

2. TẠO MÔI TRƯỜNG KHÔNG THUẬN LỢI NGĂN TẾ BÀO K PHÁT TRIỂN BẰNG CÁCH TẬP LUYỆN YOGA MỖI NGÀY.

Tế bào ác tính sẽ phát triển rất mạnh trong môi trường thiếu oxi và sẽ không phát triển hoặc chậm phát triển trong môi trường nhiều oxi.

Khi tập yoga, các tư thế và phương pháp hít thở bụng trong yoga giúp chúng ta thu nạp lượng oxi lớn vô cùng vào trong cơ thể. Và cứ đều đặn, chăm chỉ mỗi ngày như vậy, vô hình chung, chúng ta đã tạo môi trường khó khăn, giúp ngăn cản sự phát triển của tế bào ác tính.

3. TẾ BÀO K RẤT SỢ TÌNH YÊU NÊN CÁC BẠN HÃY TIÊU DIỆT NÓ BẰNG CÁCH LUÔN SỐNG VUI VẺ, LẠC QUAN, TÍCH CỰC.

Các bạn thấy đó, tất cả các bộ phận trên cơ thể đều có nguy cơ mắc bệnh ung thư trừ trái tim.

Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao tim của chúng ta không bao giờ bị ung thư cả?

Có rất nhiều lý do để giải thích cho vấn đề này song có một lý do khá thú vị. Đó là bởi trái tim của chúng ta bị chi phối bởi cảm xúc buồn -vui, giận hờn -yêu thương liên tục. Tế bào K nếu có xuất hiện thì ngay lập tức sẽ bị niềm vui và yêu thương tiêu diệt ngay.

Vậy nên, bệnh nhân ung thư cần loại bỏ cảm xúc muộn phiền, lo lắng, sân hận và thay thế bằng sự bình thản, vui vẻ, lạc quan, thương yêu, thậm chí chúng ta phải yêu từng tế bào ác tính trên cơ thể mình, chấp nhận nó như một phần bình thường của cuộc sống và thương yêu nó.

ĐÓ CHỈ LÀ NHỮNG CHIA SẺ CÁ NHÂN CỦA TÔI ĐỂ CÁC BẠN THAM KHẢO THÊM!

CHÚC CÁC BẠN NHỮNG NGÀY NGHỈ CUỐI TUẦN NHIỀU NIỀM VUI, YÊU THƯƠNG, HẠNH PHÚC MÃI ĐONG ĐẦY!
---
Chép từ FB Trần Thủy Yoga.